20 bài Đường thi – Vi Ứng Vật (韋應物)

20 bài Đường thi của Vi Ứng Vật (韋應物)
Pháp Hoan (法歡) dịch từ nguyên tác tiếng Hoa

Qua Đêm Ở Huyện Hu Di

Hạ buồm cập bến tối hôm nay,
Trạm vắng dừng chân ở trấn Hoài.
Gió chướng nổi lên cơn sóng cuộn,
Mặt trời lặn xuống bóng chiều phai.
Thâm u thành núi đoàn người bước,
Trắng muốt bãi bồi cánh nhạn bay.
Nằm nhớ ải Tần đêm chẳng ngủ,
Chuông đâu một tiếng bỗng ngân dài.

夕次盱眙縣

落帆逗淮鎮,
停舫臨孤驛。
浩浩風起波,
冥冥日沉夕。
人歸山郭暗,
雁下蘆洲白。
獨夜憶秦關,
聽鐘未眠客。

Tịch Thứ Hu Di Huyện

Lạc phàm đậu Hoài trấn,
Đình phảng lâm cô dịch.
Hạo hạo phong khởi ba,
Minh minh nhật trầm tịch.
Nhân quy sơn quách ám,
Nhạn hạ lô châu bạch.
Độc dạ ức Tần quan,
Thính chung vị miên khách.

*
Trên Sông Hoài Mừng Gặp Lại Bạn Cũ Ở Lương Xuyên

Giang Hán mỗi khi được gặp người,
Chén thù chén tạc mãi không thôi.
Mây bay một thuở mây bay mất,
Nước chảy mười năm nước chảy xuôi.
Mừng bởi tình xưa còn thắm thiết,
Trên đầu tóc đã trắng như vôi.
Vì đâu chưa trở về quê cũ,
Núi thẳm sông Hoài lặng lẽ trôi.

淮上喜會梁川故人

江漢曾為客,
相逢每醉還。
浮雲一別後,
流水十年間。
歡笑情如舊,
蕭疏鬢已斑。
何因不歸去?
淮上對秋山。

Hoài Thượng Hỉ Hội Lương Xuyên Cố Nhân

Giang Hán tằng vi khách,
Tương phùng mỗi túy hoàn.
Phù vân nhất biệt hậu,
Lưu thủy thập niên gian.
Hoan tiếu tình như cựu,
Tiêu sơ phát dĩ ban.
Hà nhân bất qui khứ,
Hoài thượng đối thu san.

*
Nghe Tiếng Nhạn Về

Vườn xưa ở cuối trời xa,
Một mình nằm nhớ quê nhà năm nao.
Hoài Nam, mưa lạnh, phòng cao,
Nửa đêm nghe tiếng lao xao nhạn về.

聞雁

故園眇何處?
歸思方悠哉。
淮南秋雨夜,
高齋聞雁來。

Văn Nhạn

Cố viên diểu hà xứ?
Quy tư phương du tai.
Hoài Nam thu vũ dạ,
Cao trai văn nhạn lai.

*
Từ Củng Lạc Đi Thuyền Vào Sông Hoàng Hà, Gửi Quan Đồng Liêu Ở Phủ Huyện

Nước hẹp đồi xanh lối tới đông,
Đông nam núi mở Đại Hà thông.
Mịt mù mây thẳm hàng cây lạnh,
Lấp loáng sông sâu vệt nắng hồng.
Sóng vỗ năm dài bên xóm vắng.
Nhạn sa gió bấc giữa trời không.
Lạc Kiều nhắn với người xưa ấy,
Một chiếc thuyền tâm lạc mấy dòng.

自鞏洛舟行入黃河即事,寄府縣僚友

夾水蒼山路向東,
東南山豁大河通。
寒樹依微遠天外,
夕陽明滅亂流中。
孤村幾歲臨伊岸,
一雁初晴下朔風。
為報洛橋遊宦侶,
扁舟不系與心同。

Tự Củng Lạc Chu Hành Nhập Hoàng Hà Tức Sự, Ký Phủ Huyện Liêu Hữu

Giáp thuỷ thương sơn lộ hướng đông,
Đông nam sơn khoát đại hà thông.
Hàn thụ y vi viễn thiên ngoại,
Tịch dương minh diệt loạn lưu trung.
Cô thôn kỷ tuế lâm y ngạn,
Nhất nhạn sơ tình há sóc phong.
Vị báo Lạc Kiều du hoạn lữ,
Thiên chu bất hệ dữ tâm đồng.

*
Tiễn Quan Chủ Bạ Họ Vương Đến Phần Thành

Tuổi trẻ trên mình ấn đã mang,
Sông Phần ngày trước có đi sang.
Cỏ thơm lớp lớp vươn ra đón,
Bạn cũ đoàn đoàn ghé đến thăm.
Chuông vọng lầu son mưa bụi tản,
Cây vờn gác tía khói đồng lan.
Cầu đông nhìn bóng người xa khuất,
Gió nhẹ vương trên đợt sóng tàn.

送汾城王主簿

少年初帶印,
汾上又經過。
芳草歸時遍,
情人故郡多。
雨禁鍾春細,
宮樹野煙和。
相望東橋別,
微風起夕波。

Tống Phần Thành Vương Chủ Bộ

Thiếu niên sơ đái ấn,
Phần thượng hữu kinh qua.
Phương thảo quy thời biến,
Tình nhân cố quận đa.
Vũ câm chung xuân tế,
Cung thụ dã yên hoà.
Tương vọng đông kiều biệt,
Vi phong khởi tịch ba.

*
“Được viết vào mùa xuân năm 785, khi Vi Ứng Vật đang chèo thuyền trên một con sông gần Trừ Châu. Đoạn cuối của bài thơ dựa theo một câu chuyện nổi tiếng của nhà thơ Đào Uyên Minh (陶渊明) kể về một người đánh cá lần theo những cánh hoa đào rơi cho đến tận thượng nguồn của con sông và tìm thấy một thế giới nơi những người ở đó luôn sống trong an bình và hạnh phúc. Sau khi trở về dương gian và kể lại cho mọi người, ông đã không thể tìm thấy lối đi vào cõi tiên kia nữa. – Theo Red Pine (Xích Tùng) trong The Poetry of Wei Ying-wu: In Such Hard Time.”

Đi Thuyền Trên Sông

Bầu trời nước Sở bốn phương không,
Qua khói mơ tan tiếng hạc đồng.
Ngày hết hạ chèo trong bãi vắng,
Chiều về câu cá giữa đầm trong.
Cánh đào lả tả vương tà áo,
Cơn gió mơn man thổi ngược dòng.
Lần đến thượng nguồn nhưng chỉ thấy,
Một màu xanh ngát ở đầu sông.

游溪

野水烟鹤唳,
楚天云雨空。
玩舟清景晚,
垂钓绿蒲中。
落花飘旅衣,
归流澹清风。
缘源不可极,
远树但青葱。

Du Khê

Dã thuỷ nhân hạc lệ,
Sở thiên vân vũ không.
Ngoạn chu thanh cảnh vãn,
Thuỳ điếu lục bồ trung.
Lạc hoa phiêu lữ ý,
Quy lưu đàm sảnh phong.
Duyên nguyên bất khả cấp,
Viễn thọ đán thanh thông.

*
Gửi Đạo Sĩ Trong Núi Toàn Tiêu

Quận phủ sáng nay lại trở trời,
Bỗng dưng bạn cũ nhớ khôn nguôi.
Lang thang lượm củi bên bờ suối,
Lặng lẽ đun nồi cạnh đá vôi.
Có ý muốn mang bình rượu ngọt,
Sang cùng tâm sự lúc mưa rơi.
Nhưng trong núi thẳm lá vàng rụng,
Không thể tìm ra được dấu người.

寄全椒山中道士

今朝郡宅冷,
忽念山中客。
澗底束荊薪,
歸來煮白石。
欲持一瓢酒,
遠慰風雨夕。
落葉滿空山,
何處尋行蹟?

Ký Toàn Tiêu Sơn Trung Đạo Sĩ

Kim triêu quận trạch lãnh,
Hốt niệm sơn trung khách.
Giản để thúc kinh tân,
Quy lai chử bạch thạch.
Dục trì nhất biều tửu,
Viễn uỷ phong vũ tịch.
Lạc diệp mãn không sơn,
Hà xứ tầm hành tích?

*
Đưa Mắt Nhìn Về Hồ Mỹ Bi Khi Đang Nhậm Chức Huyện Lệnh

Dọc bờ đê sóng lượn lờ trôi,
Hoa khói dâng lên đến tận trời.
Hai khí hài hoà cây thắm mượt,
Bốn phương yên ổn núi xanh tươi.
Sen trên nước biếc lưa thưa nở,
Cá giữa hồ sâu lững thững bơi.
Thường đến chốn này tâm vắng lặng,
Hận chi không hiểu chuyện con người.

任鄠令渼陂遊眺

野水灩長塘,
煙花亂晴日。
氤氳綠樹多,
蒼翠千山出。
遊魚時可見,
新荷尚未密。
屢往心獨閑,
恨無理人術。

Nhậm Hộ Lệnh Mỹ Bi Du Diểu

Dã thuỷ diễm trường đường,
Yên hoa loạn tình nhật.
Nhân uân lục thọ đa,
Thương thuý thiên sơn xuất.
Du ngư thời khả hiện,
Tân hà thượng vị mật.
Lũ vãng tâm độc nhàn,
Hận vô lý nhân thuật.

*
Bắt Chước Đào Bành Trạch

Cỏ cây héo úa bởi sương rơi,
Chỉ có cúc kia nở rạng ngời.
Bản tính muôn loài như thế đó,
Dầu cho nóng lạnh chẳng đầy vơi.
Cho hoa vào hũ chờ đêm tới,
Cùng với tá điền mở cuộc chơi.
Dưới mái nhà tranh say tuý luý,
Cầu mong chi nữa ở trên đời.

效陶彭澤

霜露悴百草,
時菊獨妍華。
物性有如此,
寒暑其奈何。
掇英泛濁醪,
日入會田家。
盡醉茅檐下,
一生豈在多。

Hiệu Đào Bành Trạch

Sương lộ tuỵ bách thảo,
Thì cúc độc nghiên hoa.
Vật tính hữu như thử,
Hàn thử kỳ nại hà.
Xuyết anh phiếm trọc dao,
Nhật nhập hội điền gia.
Tận tuý mao thiềm hạ,
Nhất sinh khởi tại đa.

*
“Được viết vào khoảng đầu mùa thu năm 782 trên đường đến Trừ Châu. Nghỉ chân đoạn sông Hoài và kênh đào Đại Vân Hà giao nhau ở Hoài Âm – cách Hoàng Hải tầm 100 cây số. Vi Ứng Vật nghe tiếng chuông chùa ở ngọn đồi gần đó và nhớ đến người bạn mà ông đã gặp lúc thăm viếng Quảng Lăng (Quảng Châu) vào mùa thu năm 769. Khu vực này từng là một phần của nước Sở. Trong khi đợi chuyến đò kế tiếp, và có lẽ ông đang có một vài phận sự ở Hoài Âm, Vi Ứng Vật nhờ cánh nhạn gửi tâm tư của mình đến bạn bè ở phương xa, hình thức thư tín duy nhất của những người xa nhau trong tuyệt vọng. Từ Hoài Âm đến Quảng Châu cách khoảng 150 cây số theo hướng đông nam.”

Tức Sự Trên Sông Hoài Gửi Người Thân Ở Quảng Lăng

Đò đã rời đi bóng nhạt nhoà,
Muốn sang nhưng chẳng đợi chờ ta.
Chuông thu vang vọng bên đồi vắng,
Mưa Sở mịt mờ giáp biển xa.
Sóng gió động lòng lúc tiễn biệt,
Mặt mày đổi khác những ngày qua.
Đông nam một cánh chim bay mỏi,
Hỏi lối Quảng Lăng để lại nhà.

淮上即事寄廣陵親故

前舟已眇眇,
欲度誰相待。
秋山起暮鐘,
楚雨連滄海。
風波離思滿,
宿昔容鬢改。
獨鳥下東南,
廣陵何處地?

Hoài Thượng Tức Sự Ký Quảng Lăng Thân Cố

Tiền chu dĩ miễu miễu,
Dục độ thuỳ tương đãi.
Thu sơn khởi mộ chung,
Sở vũ liên thương hải.
Phong ba ly tứ mãn,
Túc tích dung mấn cải.
Độc điểu há đông nam,
Quảng Lăng hà xứ địa?

*
Đêm Thu: Gửi Viên Ngoại Khâu Hăm Hai

Đêm thu bỗng nhớ đến người,
Trời thanh tản bộ bồi hồi ngâm thơ.
Thông rơi trên đỉnh núi khô,
U nhân giờ hẳn chưa vô giấc nồng.

秋夜寄丘二十二員外

懷君屬秋夜,
散步詠涼天。
空山松子落,
幽人應未眠。

Thu Dạ Ký Khâu Nhị Thập Nhị Viên Ngoại

Hoài quân thuộc thu dạ,
Tản bộ vịnh lương thiên.
Không sơn tùng tử lạc,
U nhân ưng vị miên.

*
Đáp Quan Chủ Bạ Họ Thôi

Trăng chia sương khói giữa rừng cây,
Tiếng sáo du dương tiễn biệt ngày.
Hạnh phúc năm xưa giờ cách trở,
Phòng không hàn khí lẹ làng xây.
Sông ngân lấp lánh vắt trời thẳm,
Bóng nhạn mịt mờ ẩn thức mây.
Không thể đáp lời tao nhã ấy,
Nói chi thêm nữa nỗi đau này.

荅崔主簿倬

朗月分林靄,
遙管動離聲。
故驩良已阻,
空宇澹無情。
窈窕雲雁沒,
蒼茫河漢橫。
蘭草不可荅,
沖襟徒自盈。

Đáp Thôi Chủ Bạ Trác

Lãng nguyệt phân lâm ái,
Diêu quản động ly thanh.
Cố hoan lương dĩ trở,
Không vũ đạm vô tình.
Yểu thiêu vân nhạn một,
Thương man hà hán hoành.
Lan thảo bất khả đáp,
Trùng khâm đồ tự doanh.

*
Chèo Thuyền Trên Con Hào Phía Nam Với Lục Côn

Du hí trong ngày nắng gắt gao,
Thuyền trôi lơ lững ở trên hào.
Rừng cây sáo trúc lên đồng vọng,
Tay áo gió trưa thổi rạt rào.
Mây tạnh nước trong trời xán lạn,
Mưa tan sen lạnh khí thanh tao.
Thay vì dốc hết bầu tâm sự,
Ta tiến hoa tươi chén rượu đào.

南塘泛舟會元六昆季

端居倦時燠,
輕舟泛回塘。
微風飄襟散,
橫吹繞林長。
雲澹水容夕,
雨微荷氣涼。
一寫悁勤意,
寧用訴華觴。

Nam Đường Phiếm Chu Hội Nguyên Lục Côn Quý

Đoan ký quyện thời úc,
Khinh chu phiếm hồi đường.
Vi phong phiêu khâm tản,
Hoành xuý nhiễu lâm trường.
Vân đạm thuỷ dung tịch,
Vũ vi hà khí lương.
Nhất tả quyên cần ý,
Ninh dụng tố hoa thương.

*
Tiết Hàn Thực, Gửi Các Đệ Ở Kinh Sư

Phòng không cấm lửa lạnh tanh,
Nghe trong mưa tiếng dạ oanh gọi bờ.
Nhìn hoa uống, nhớ người xưa,
Đỗ Lăng Hàn thực cỏ chưa thẫm màu?

寒食寄京師諸弟

雨中禁火空齋冷,
江上流鶯獨坐聽。
把酒看花想諸弟,
杜陵寒食草青青。

Hàn Thực Ký Kinh Sư Chư Đệ

Vũ trung cấm hoả không trai lãnh,
Giang thượng lưu oanh độc toạ thinh.
Bả tửu khán hoa tưởng chư đệ,
Đỗ Lăng hàn thực thảo thanh thanh.

*
Phú Đắc: Mưa Chiều Tiễn Lý Tào

Sở Giang mưa bụi nhẹ nhàng lan,
Kiến Nghiệp chuông ngân tiếng rõ ràng.
Lặng lẽ buồm căng trên sóng nước,
Lơ thơ chim lạc giữa mây ngàn.
Hàng cây thấp thoáng bên bờ vắng,
Cửa bể mịt mờ trước bãi ngang.
Tiễn bạn đi rồi tình thắm thiết,
Lệ giăng như những sợi tơ tàn.

賦得暮雨送李冑

楚江微雨裡,
建業暮鐘時。
漠漠帆來重,
冥冥鳥去遲。
海門深不見,
浦樹遠含滋。
相送情無限,
沾襟比散絲。

Phú Đắc Mộ Vũ Tống Lý Tào

Sở giang vi vũ lý,
Kiến Nghiệp mộ chung thì.
Mạc mạc phàm lai trọng,
Minh minh điểu khứ trì.
Hải môn thâm bất kiến,
Phố thụ viễn hàm tư.
Tương tống tình vô hạn,
Triêm khâm tỷ tán ty.

*
Gặp Phùng Trứ ở Trường An

Phương đông có vị khách về chơi,
Mưa Bá Lăng rơi ướt áo người.
Gạn hỏi cớ gì khách lại đến,
Rằng mua rìu để đốn cây thôi.
Âm thầm hoa thắm đơm trong núi,
Ríu rít én non lượn giữa trời.
Vừa mới chia tay xuân đã tới,
Trên đầu tóc bạc trắng như vôi.

長安遇馮著

客從東方來,
衣上灞陵雨。
問客何為來,
采山因買斧。
冥冥花正開,
颺颺燕新乳。
昨別今已春,
鬢絲生幾縷。

Trường An ngộ Phùng Trứ

Khách tòng đông phương lai,
Y thượng Bá Lăng vũ.
Vấn khách hà vị lai,
Thái Sơn nhân mãi phủ.
Minh minh hoa chính khai,
Dương dương yến tân nhũ.
Tạc biệt kim dĩ xuân,
Mấn ty sinh kỷ lũ.

*
Trước Cỏ Huyên

Ai kẻ đã trồng đám cỏ huyên,
Trước sân nhà vắng bóng chiều lên.
Xưa nay vốn gọi vong ưu vật,
Hà cớ chi ta lại muộn phiền.
Cỏ rậm hạt sương còn rụng xuống,
Hương thừa hồn bướm vẫn chao nghiêng.
Đỗ Lăng vườn cũ đêm nằm nhớ,
Nghe gió mưa thu toả mọi miền.

對萱草

何人樹萱草,
對此郡齋幽。
本是忘憂物,
今夕重生憂。
叢疏露始滴,
芳餘蝶尚留。
還思杜陵圃,
離披風雨秋。

Đối Huyên Thảo

Hà nhân thụ huyên thảo,
Đối thử quận trai u.
Bản thị vong ưu vật,
Kim tịch trùng sinh ưu.
Tùng sơ lộ thuỷ tích,
Phương dư điệp thượng lưu.
Hoàn tư Đỗ Lăng phố,
Ly phi phong vũ thu.

*
Đi Thuyền Thăm Lại Ngoại Thành Phía Tây

Đến khúc sông sâu giữa đoạn đường,
Du nhân đâu bỗng nhớ người thương.
Đêm qua trăng chiếu trên trời thẳm,
Sáng lại nhấp nhô giữa sóng cuồng.
Núi động chim rừng khôn hạ cánh,
Khí hàn nhuỵ thắm chẳng đưa hương.
Khi nào được nắm tay lần nữa,
Hoa trắng trên đầu tựa tuyết sương.

再遊西郊渡

水曲一追遊,
遊人重懷戀。
嬋娟昨夜月,
還向波中見。
驚禽棲不定,
流芳寒未徧。
攜手更何時,
佇看花似霰。

Tái Du Tây Giao Ba

Thuỷ khúc nhất truy du,
Du nhân trùng hoài niệm.
Thuyền quyên tạc dạ nguyệt,
Hoàn hướng ba trung kiến.
Kinh cầm thê bất đính,
Lưu phương hàn vị biến.
Huề thủ cánh hà thời,
Trữ khán hoa tựa tản.

*
Gửi Lý Đàm, Nguyên Tích

Dưới hoa năm ngoái nói chia tay,
Hoa nở năm nay vẫn chốn này.
Thế sự đa đoan không thể liệu,
Xuân sầu ảm đạm mộng chiều xây.
Bệnh tình: vườn tược thương khôn xiết,
Lưu lạc: bổng tiền thẹn lắm thay.
Nghe bạn đến thăm nhưng chẳng thấy,
Lầu tây mấy độ bóng trăng đầy.

寄李儋元錫

去年花裡逢君別,
今日花開又一年。
世事茫茫難自料,
春愁黯黯獨成眠。
身多疾病思田里,
邑有流亡愧俸錢。
聞道欲來相問訊,
西樓望月幾回圓。

Ký Lý Đảm, Nguyên Tích

Khứ niên hoa lý phùng quân biệt,
Kim nhật hoa khai hựu nhất niên.
Thế sự mang mang nan tự liệu,
Xuân sầu ảm ảm độc thành miên.
Thân đa tật bệnh tư điền lý,
Ấp hữu lưu vong quý bổng tiền.
Văn đạo dục lai tương vấn tấn,
Tây lâu vọng nguyệt kỷ hồi viên.

*
“Đôi lúc nhớ bạn da diết, đọc thơ, nghe tiếng cổ cầm hoà vào tiếng mưa thu mà chạnh lòng, thương cổ nhân chỉ cậy thư thăm hỏi, xa xôi lắm thì chỉ biết ngóng nhạn nhìn trăng.”

Rời Bến Dương Tử Gửi Quan Hiệu Thư Nguyên Đại

Cách biệt người rồi dạ vấn vương,
Mênh mang sương khói buổi lên đường.
Quảng Lăng cây thẫm chuông chiều vọng,
Khua mái chèo về hướng Lạc Dương.
Từ giã lúc trời vừa tảng sáng,
Xứ nào gặp lại được người thương?
Sự đời chi khác thuyền không bến,
Trôi nổi lênh đênh giữa sóng cuồng.

初發揚子寄元大校書

悽悽去親愛,
泛泛入煙霧。
歸棹洛陽人,
殘鐘廣陵樹。
今朝為此別,
何處還相遇。
世事波上舟,
沿洄安得住。

Sơ Phát Dương Tử Ký Nguyên Đại Hiệu Thư

Thê thê khứ thân ái,
Phiếm phiếm nhập yên vụ.
Quy trạo Lạc Dương nhân,
Tàn chung Quảng Lăng thụ.
Kim triêu vi thử biệt,
Hà xứ hoàn tương ngộ.
Thế sự ba thượng chu,
Diên hồi an đắc trú.

_____________
* Pháp Hoan dịch từ nguyên tác tiếng Hoa của nhà thơ người Trung Hoa đời nhà Đường Vi Ứng Vật (韋應物; 737-792).
* Đóng góp: https://phaphoan.ca/contact/

1 bình luận

Trả lời