Phật Giáo và Vấn Đề Nội Hoá Văn Minh
Cộng đồng Phật giáo Tây Tạng là một cộng đồng lưu vong chỉ khoảng hơn một trăm nghìn người (ngoài Trung Hoa), nhưng lại có thể thành lập được một trường đại học Phật giáo có tiếng ở Bắc Mỹ như Naropa University, và hiện diện sâu trong nhiều nhánh nghiên cứu của chuyên khoa Phật học tại các đại học lớn trên thế giới. Đối với nhiều cộng đồng Phật giáo quốc tế khác, đây gần như là một điều không tưởng.
Trong khi đó, Phật giáo Việt Nam, trừ trường hợp đặc biệt của Làng Mai, vẫn chưa thực sự cắm rễ vào đời sống văn hóa và xã hội ở Tây Âu hay Bắc Mỹ. Dẫu thiền sư Nhất Hạnh và Làng Mai đã từng muốn biến Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (EIAB, nơi tôi từng theo học 4 năm) trở thành trường đại học Phật Giáo đầu tiên của châu Âu, nhưng tham vọng này đến nay vẫn chưa thực hiện được, và có lẽ sẽ không bao giờ được thực hiện.
Theo thiển ý của tôi, lý do chính yếu nằm ở cách mỗi nền văn minh đã nội hoá Phật giáo của mình.
Ở Nhật Bản, Phật giáo đi thẳng vào mỹ học. Người Nhật biến Thiền thành linh hồn văn hóa của quốc gia họ. Từ thơ ca, trà đạo, vườn đá, kiến trúc cho đến cách ăn mặc, tất cả đều thấm đẫm tinh thần Thiền.
Tây Tạng là một trường hợp thú vị, bởi chỉ là một quốc gia nhỏ nhưng Phật giáo đã được nội hoá và đồng nhất với bản thể của nó. Các tu sĩ Tây Tạng qua nhiều thế kỷ đã phát triển những hệ thống luận giải, tantra và truyền thừa học thuật rất chặt chẽ, tạo nên một nền văn minh tu viện độc đáo. Đây là lý do khi cộng đồng Tây Tạng rơi vào lưu vong, họ vẫn mang theo cả một nền văn minh tu viện và có thể tái thiết ở bất cứ đâu.
Ở Trung Hoa, Phật giáo là một trong ba trụ cột chính của nền văn minh. Qua hàng nghìn năm đối thoại với Nho giáo và Đạo giáo, những hệ thống tư tưởng lớn như Thiền tông, Hoa Nghiêm hay Thiên Thai hình thành, khiến Phật giáo trở thành một phần không thể tách rời của nền triết học cổ điển Trung Hoa.
Trong cả ba trường hợp, Phật giáo đã được nội hoá sâu đến mức nó không còn là một tôn giáo ngoại lai. Trong khi đó, Phật giáo Việt Nam dường như vẫn chưa hoàn tất quá trình nội hoá ấy. Việt Nam có một vị trí địa chính trị đặc biệt, là nơi giao thoa của nhiều truyền thống tôn giáo lớn như Phật giáo Bắc tông, Nam tông, Đạo giáo, Nho giáo và cả Thiên Chúa giáo, nhưng điều đáng tiếc là sự giao thoa ấy lại chưa bao giờ được chuyển hoá thành những hệ thống tư tưởng hoặc mỹ học đặc thù.
Phật giáo Việt Nam, từ lịch sử đến hiện tại, dường như đi theo một con đường khác. Thay vì quay vào bên trong để phát triển các hệ thống tư tưởng hay mỹ học, nó thường hướng ra bên ngoài. Điều này không gì khác ngoài hệ quả trực tiếp của những hoàn cảnh lịch sử kéo dài.
Trong nhiều thế kỷ, Phật giáo Việt Nam tồn tại giữa chiến tranh, đô hộ, nghèo đói và sự kiểm soát ý thức hệ, hiếm khi có được một không gian ổn định đủ lâu để tích lũy học thuật, định hình mỹ học, phát triển dịch thuật và xây dựng những hệ thống triết học lớn như ở các quốc gia Phật giáo khác. Ngoại lệ đáng chú ý nhất là truyền thống Trúc Lâm và Phật giáo thời Lý–Trần, dẫu chúng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn.
Khi xã hội có nhiều biến động, tôn giáo thường hướng ra bên ngoài. Từ thiền sư Thích Nhất Hạnh với phong trào Phật giáo dấn thân, đến Thầy Minh Tuệ với những chuyến hành hương khổ hạnh, hay hiện tượng Walk for Peace từng diễn ra tại Hoa Kỳ, tất cả đều là những biểu hiện khác nhau của cùng một logic: dùng hành động làm diễn ngôn.
Nếu Nhật Bản biến Phật giáo thành mỹ học, Trung Hoa biến nó thành triết học, Tây Tạng biến nó thành một vũ trụ quan tôn giáo và học thuật, thì Việt Nam dường như đã biến Phật giáo thành một thứ đạo đức, tôi gọi là đạo đức của dấn thân hay hành động.
Trong khi các truyền thống khác có điều kiện xây dựng thư viện, trường phái, mỹ học, nghi lễ và biểu tượng qua nhiều thế kỷ tương đối ổn định, Phật giáo Việt Nam phần lớn vẫn ở trong trạng thái phản ứng trước các khủng hoảng của xã hội.
Hệ quả là Phật giáo Việt Nam cho đến nay vẫn thiếu một hệ thống triết học lớn, chưa tạo ra được một kiến trúc tư tưởng hay một truyền thống nghệ thuật đủ sâu và đủ bền để các thế hệ kế tiếp có thể tiếp nối và phát triển.
Vấn đề này không chỉ xảy ra với Phật giáo. Ngay cả trong truyền thống Thiên Chúa giáo tại Việt Nam, chiều sâu thần học cũng hiếm khi trở thành nền tảng cho những kiến tạo tư tưởng lớn mang tính bản địa trong 400 năm qua.
Trong nhiều nền văn minh, những người sống đời chiêm niệm, tức những tu sĩ dành phần lớn thời gian cho suy tư và nghiên cứu, mới là những người giữ mạch tư tưởng của tôn giáo, mà không có tư tưởng thì làm sao các chân trời mỹ học và triết học có thể mở ra.
Mỹ Học Phật giáo và Thiên Chúa giáo là hai trong những mỹ học đẹp nhất mà nhân loại từng sáng tạo. Lý do khiến tôi dành hơn mười năm qua để dịch hàng nghìn bài thơ Đường, haiku và waka chính vì trong những hình thức thơ ca ấy còn lưu giữ tinh thần triết học và mỹ học của Tam giáo. Nhưng chừng đó vẫn chưa thực đủ, tôi quyết định dịch thêm Thần Khúc, bởi nó là một trong những đỉnh cao của mỹ học và triết học Thiên Chúa giáo. Ai đọc sâu Thần Khúc đều biết, Dante đã kết hợp thần học của Augustine và Aquinas một cách nhuần nhuyễn để dựng nên một bản đồ đạo đức và tinh thần cho châu Âu suốt bảy thế kỷ qua.
Thay vì chỉ trích tôn giáo trên bề mặt, điều cần thiết hơn lúc này là đào sâu vào gốc rễ triết học và mỹ học của các giá trị tư tưởng đã được thừa hưởng. Trách nhiệm này không chỉ thuộc về các tu sĩ, mà còn thuộc về mỗi cá nhân trong xã hội, bằng hình thức giáo dục tự thân mỗi ngày. Vậy nên, đừng vội đánh giá hoặc chê bai khi chưa hiểu sâu về Phật giáo, Nho giáo hay Đạo giáo, bởi chúng chính là những nền tảng văn minh đã tạo nên phần lớn ý nghĩa mà người Việt không thể sống thiếu.