CỔ KIM HOÀ CA TẬP
(Kokin Wakashū; 古今和歌集)
– Cuốn 1: Mùa Xuân (Bài 006-010)
Bài 6
Pháp sư Sosei (素性法師; Tố Tính Pháp Sư)
Về tuyết bám trên một thân cây
Xuân vừa đến nơi đây
chim hoàng oanh cất tiếng
hót trên cành mê say
bởi ngỡ rằng tuyết trắng
là hoa tươi nở đầy?
haru tateba
hana to ya miramu
shirayuki no
kakereru eda ni
uguisu no naku
Now that spring has come,
does he mistake them for flowers –
the wabler singing
among branches deep-laden
with mounds of snowy white flakes.
春立てば花とや見らむ白雪のかかれる枝にうぐひすぞなく
*
Bài 7
Vô Danh. Không rõ chủ đề
Tôi ngỡ tuyết trắng ngần
là những bông hoa nhỏ
nở ra giữa mùa xuân
bởi khát khao nhung nhớ
khi đưa tay bẻ cành?
kokorozashi
fukaku somete shi
orikereba
kieaenu yuki no
hana to miyaramu
That I should mistake
lingering snowflakes for flowers –
might it be because
my longing was so fervent
when I broke off the branches?
心ざしふかくそめてし折りければきえあへぬ雪の花と見ゆらむ
*
Bài 8
Fun’ya no Yasuhide (文屋 康秀)
Vào ngày Thứ Ba của tháng Thứ Nhất (tháng Giêng), hoàng hậu Nijō [Kōshi], người được biết đến là Mẹ của Thái Tử (Hoàng đế Yòzei), cho triệu Yasuhide đến để ban bố một vài mệnh lệnh. Khi ông cúi mình dưới mái hiên, hoàng hậu quan sát thấy tuyết đang rơi trên đầu ông trong lúc mặt trời vẫn đang chiếu sáng, bà liền hạ lệnh cho ông sáng tác một bài thơ.
Ôi may mắn làm sao
trong ngày xuân được tắm
bởi mặt trời trên cao,
nhưng buồn thay tuyết trắng
đã phủ lên mái đầu.
haru no hi no
hikari ni ataru
ware naredo
kashira no yuki to
naru zo wabishiki
Rare is the fortune
of one who basks in the sun
on this springtime day
yet how can I not lament
that snow should whiten my head?
春の日のひかりにあたる我なれどかしらの雪となるぞわびしき
Haru no hi (“xuân nhật”-“mặt trời mùa xuân”) ẩn dụ cho Thái Tử, một trong những biệt hiệu của ngài là Xuân Điện. Kashira no yuki (tuyết trên đầu) là cách chơi chữ cho (“bạch phát”-“tóc bạc”). Người viết trân trọng ân sủng của Thái Tử nhưng đồng thời lo lắng khi bản thân đang ngày càng trở nên già cả.
*
Bài 9
Ki no Tsurayuki (紀貫之; Kỷ Quán Chi)
Trong một lần tuyết rơi
Khi tuyết nhẹ nhàng rơi
qua màn sương mờ ảo
và những chồi cây tươi –
làng không hoa vẫn có
cánh hoa bay đầy trời.
kasumi tachi
ko no me mo haru no
yuki fureba
hana naki sato mo
hana zo chirikeru
When snow comes in spring
fair season of layered haze
and burgeoning buds –
flowers fall in villages
where flowers have yet to bloom.
霞たち木の芽も春の雪ふれば花なき里も花ぞちりける
*
Bài 10
Fujiwara no Kotonao (藤原言直; Đằng Nguyên Ngôn Trực)
Một bài thơ ngâm trong ngày đầu mùa xuân
Hoa kia nở muộn màng
hay mùa xuân đến sớm?
ngay cả chú oanh vàng
dẫu như ta có hỏi
cũng lặng câm hoàn toàn.
haru ya toki
hana ya osoki to
kikiwakamu
uguisu dani mo
nakazu mo aruka
Has spring come early
or might be the blossoms be late?
There is no answer
not even from the warbler,
who could tell me if he could.
春やとき花やをそき聞き分かむ鶯だにも鳴かずもあるかな
————–
* Pháp Hoan dịch từ bản dịch tiếng Anh trong Kokin Wakashū, The First Imperial Anthology of Japanese Poetry, translated and annotated by Hellen Cgrag McCullough with Tosa Nikki and Shinsen Waka. Standford University Press, Stanford, California. Có tham khảo thêm bản dịch tiếng Anh trong Waka Poetry.
* Artwork by Japanese artist.
* Mọi ủng hộ/đóng góp của quý bằng hữu là phương tiện giúp Pháp Hoan có thể tiếp tục sáng tạo và cống hiến. https://phaphoan.com/contact/