Chánh Niệm và Cấu Trúc Đóng Băng Thời Tính
Phật giáo nhân gian được truyền vào Bắc Mỹ lần đầu tiên qua làn sóng nhập cư của người châu Á trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, theo chân các cộng đồng người Hoa và người Nhật đến định cư tại Hoa Kỳ và Canada. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Phật giáo không chỉ chuyển đổi ngôn ngữ, mà chuyển hẳn sang một nền văn minh đã thế tục hoá nền siêu hình học tôn giáo của nó.
Sau Thế chiến thứ hai, một làn sóng Phật giáo mới hình thành nhờ nền tảng đã được đặt ra trước đó bởi thiền sư D.T. Suzuki và Shunryu Suzuki ; thiền tông (chủ yếu là thiền Tào Động Nhật Bản) trở thành một hiện tượng văn hoá trong cộng đồng trí thức và tu tập phương Tây. Làn sóng thứ ba là Phật giáo Tây Tạng (sau năm 1959), với sự hiện diện nổi bật của đức Dalai Lama. Và làn sóng tiếp theo là Phật giáo dấn thân hay truyền thống Làng Mai của thiền sư Thích Nhất Hạnh (Thiền Lâm Tế, nhánh thiền thứ 2 còn tồn tại của Thiền Tông).
Như tôi đã trình bày lần trước, Phật giáo Đại thừa được sinh ra bởi ba lần diễn giải lớn trong lịch sử: lần thứ nhất tại Gandhāra, nơi các kinh điển Đại thừa ra đời; lần thứ hai khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa và va chạm với Khổng giáo và Đạo giáo; lần thứ ba khi Thiền tông hình thành, truyền sang Nhật Bản và đạt đến đỉnh cao thẩm mỹ; và theo tôi, lần diễn giải thứ tư là khi Phật giáo du nhập vào Bắc Mỹ, với sự hình thành của một nhánh riêng biệt: Phật giáo thế tục.
Nhưng sẽ thiếu sự minh bạch nếu cho rằng Phật giáo thế tục tại Bắc Mỹ chỉ là kết quả diễn giải phù hợp với tình thần khế lý khế cơ của các vị thầy châu Á, bởi phong trào Phật giáo này còn chịu ảnh hưởng bởi văn hoá trị liệu phương Tây, tâm lý học hiện đại và mô hình thực tập chánh niệm như MBSR do Jon Kabat-Zinn phát triển, chính sự kết hợp này mới tạo nên một nhánh Phật giáo mới, với mục tiêu chính là tập trung vào tính ứng dụng trong xã hội thế tục.
Nửa sau thế kỷ 20, người châu Âu và Bắc Mỹ đã trải qua vô số những cuộc khủng hoảng hiện sinh khiến cho các cấu trúc tuyệt đối của tôn giáo và văn hoá mất dần quyền lực, dẫn đến sự phân hoá sâu sắc của xã hội hiện đại, bên cạnh một hệ quả khác là những phong trào cực đoan về chính trị, triết học và tâm lý nổi lên như những phản ứng muốn quay trở về với giá trị truyền thống, dù chính những giá trị ấy từng gây ra khổ đau và bạo lực trong quá khứ.
Tôi không đi sâu vào vấn đề này, mà chỉ muốn chỉ ra một điểm thú vị trong cách xã hội phương Tây đối diện với khủng hoảng ấy, và cách nó ảnh hưởng đến môi trường cũng như trách nhiệm đối với tương lai.
Con người thường có hai xu hướng: một là tìm kiếm cứu cánh trong tương lai, hai là sống và tận hưởng hiện tại. Hai xu hướng này tự thân không phải là vấn đề, vấn đề chỉ sinh ra khi một thực hành hay một lý tưởng được nâng lên thành nền tuyệt đối hay một trục duy nhất để hiểu và tổ chức đời sống.
Khi mục tiêu tối hậu của cuộc đời được đặt trọng tâm ở việc thoát khỏi luân hồi sinh tử, tìm về với thiên đường hay vãng sanh về cực lạc, thế giới hiện tại trở thành một nơi cư trú tạm bợ. Môi sinh, lịch sử và xã hội bị đẩy ra bên lề, bởi điều quan trọng không còn là điều kiện tồn sinh của trái đất, mà là một cứu cánh siêu hình vượt ra ngoài thế giới này.
Khuynh hướng thứ hai là sự tuyệt đối hóa hiện tại: khi con người tin vào chủ nghĩa hiện sinh thế tục sau giải cấu trúc, việc tận hưởng những gì có thể trong khi còn tồn tại trở thành một hành động hợp lý. Trong diễn giải phổ biến của Phật giáo thế tục, chánh niệm bị thu hẹp thành “chỉ sống trong khoảnh khắc này”, với khẩu hiệu: quá khứ đã qua, tương lai chưa đến. Ban đầu nó là công cụ giảm căng thẳng, cân bằng tâm lý, tối ưu hiệu suất cá nhân, nhưng vô tình, nó có thể làm suy yếu hoặc loại bỏ hoàn toàn trách nhiệm đối với tương lai. Thực ra, trong lịch sử, chánh niệm hiếm khi được thực tập thuần tuý như nguyên nghĩa ban đầu. Ở mỗi giai đoạn, nó đều bị đặt trong một khung: để thoát khổ, để đạt giác ngộ, để trị liệu, hay để tận hưởng giây phút hiện tại.
Hai khuynh hướng tưởng như đối nghịch, một bên hướng về cứu cánh siêu hình, một bên co lại vào hiện tại, thực chất chỉ cùng chung một cấu trúc, tức đóng băng thời gian thành một chiều duy nhất để duy trì ổn định tâm lý.
Con người sống trong một thực tại luôn vận động và bất định, không có nền tuyệt đối. Chính sự bất định này tạo ra một thứ lo âu, tôi gọi là lo âu bản thể. Ý thức, vốn hình thành để dự đoán và tổ chức đời sống, có xu hướng tìm kiếm một điểm neo, khi không chịu nổi tính không nền của thực tại, con người sẽ tuyệt đối hóa một chiều của thời gian để định hình thực tại tuyệt đối. Phật giáo thế tục trong bối cảnh châu Âu và Bắc Mỹ có thể được hiểu như một phản ứng trước chủ nghĩa hư vô và đứt gãy ý nghĩa, và khuynh hướng siêu hình tuyệt đối hóa tương lai cũng là phản ứng trước sự biến đổi quá nhanh của hiện đại.
Trong bối cảnh khủng hoảng môi sinh toàn cầu, khi một thời tính, tức cấu trúc sống qua đó con người kinh nghiệm thực tại như dòng quá khứ–hiện tại–tương lai bị thu hẹp vào một chiều duy nhất và được nâng lên thành nền tuyệt đối, mọi chiều kích khác của thời gian bị đẩy ra bên lề. Một thực hành tâm linh nếu không dung chứa trách nhiệm sinh thái, có thể vô tình trở thành công cụ duy trì quán tính của cấu trúc xã hội tiêu thụ hiện đại: con người tìm kiếm bình an hoặc cứu rỗi trong khi hệ sinh thái đang ngày càng suy kiệt. Tỉnh thức không phải là rút về hiện tại, cũng không phải là trốn vào tương lai siêu hình, tỉnh thức là khả năng giữ cửa thời tính, thấy hiện tại như điểm giao thoa của ký ức và trách nhiệm tương lai, khi thời gian được giữ trong trạng thái mở, hiện tại không chỉ là nơi lạc trú, mà còn trở thành nơi phát sinh của hành động.