LẦN DIỄN GIẢI LẦN THỨ IV
Đọc Phật Giáo như một Tiến Trình Văn Minh
(Trong bài viết này tôi có đề xuất các khái niệm mới như Bốn Lần Diễn Giải Phật Giáo, Bốn Tiêu Chí Diễn Giải và Tâm Linh Hậu Thuộc Địa; tôi xin chịu trách nhiệm cho mọi phản biện.)
Ở Bắc Mỹ và châu Âu, khi tôi gặp những người tìm hiểu về Phật giáo, họ thường nói: “Phật giáo không phải là tôn giáo, mà chỉ là một hệ thống triết học hoặc một con đường trị liệu tâm linh.”
Nhận định này không làm tôi ngạc nhiên, bởi nó là kết quả của quá trình tái diễn giải Phật giáo khi các đạo sư Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam mang truyền thống này sang phương Tây sau Thế chiến thứ hai, cùng với sự trỗi dậy của các phong trào chánh niệm do giới học thuật phương Tây khởi xướng. Nhưng khi tiếp xúc với cộng đồng Phật tử ở Việt Nam, Nhật Bản và Đài Loan, tôi nhận ra rằng cách diễn giải này đã quay trở lại ảnh hưởng đến chính thế giới quan của các cộng đồng Phật giáo Á châu.
Để một diễn giải có thể trở thành một truyền thống mới, theo sự quan sát của tôi, nó phải đáp ứng đủ 3 trong 4 tiêu chí bên dưới:
– xây dựng một hệ tư tưởng mới
– phát triển một hệ mỹ học mới
– hình thành một cộng đồng dịch thuật
– thiết lập những cộng đồng thực tập.
Phật giáo Bắc Mỹ cho đến nay mới chỉ làm được hai tiêu chí sau.
Cũng theo sự quan sát của tôi về tiến trình lịch sử của mỗi truyền thống, Phật giáo đã trải qua ba lần diễn giải lớn.
Lần thứ nhất diễn ra tại Gandhāra và Ấn Độ, nơi kinh điển Đại Thừa cùng các hệ thống triết học như Trung Quán và Duy Thức hình thành, đồng thời xuất hiện một nền mỹ học Phật giáo mới qua phong cách nghệ thuật Gandhāra và Mathura.
Lần thứ hai diễn ra tại Trung Hoa và Tây Tạng, nơi Phật giáo được tái cấu trúc sâu rộng qua sự hình thành của các tông phái mới như Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai Tông, và các truyền thống Mật giáo Tây Tạng, cùng một hệ mỹ học Phật giáo đặc thù của Đông Á và khu vực. (Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi lần diễn giải này, dẫu Phật giáo đã có mặt tại Việt Nam khoảng thế kỷ thứ II sau Công nguyên nhờ vào các đoàn thương gia Ấn Độ. Mọi người có thể tham khảo thêm trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang-Thích Nhất Hạnh).
Lần thứ ba diễn ra tại Trung Hoa và Nhật Bản, khi Thiền Tông thành lập và được tái diễn giải lại qua Zen, với sự kết hợp với các hình thức mỹ học mới đã nâng Phật giáo lên tầm văn minh như haiku, vườn thiền và trà đạo.
Mỗi lần diễn giải này đều là một bước ngoặt trong việc tái định hình Phật giáo để phù hợp với những điều kiện văn minh và xã hội đương thời.
Còn trường hợp Phật giáo ở Bắc Mỹ, trong những thập niên đầu, cộng đồng tu tập ở đây không quá chú trọng đến nghiệp, tái sinh hay luân hồi. Hầu hết tín đồ chỉ quan tâm đến trị liệu và tâm linh. Họ xem Phật giáo như một nơi trú ngụ tinh thần thay vì tìm kiếm cứu cánh siêu hình. Đây chính là mầm mống của lần diễn giải thứ tư, tức Phật giáo thế tục.
Điều này tạo ra một thực trạng ngây thơ lịch sử, khi đa số tín đồ không nhận ra rằng ngay sau khi giác ngộ, Đức Phật đã thiết lập một mô hình tôn giáo với cấu trúc và nghi lễ rõ ràng. Đức Phật không chỉ diễn giải con đường giải thoát mà còn xây dựng cộng đồng Tăng già với giới luật, kinh điển và hệ thống đạo đức chặt chẽ dành cho giới xuất gia và tại gia. Sau khi Đức Phật nhập diệt, những cấu trúc này đã được Tăng già chuẩn hóa sâu rộng, tạo nền tảng cho nhiều hệ truyền thừa và tông phái sau này.
Việc phương Tây chỉ biết đến Phật giáo như một mô hình trị liệu hay tâm linh đã khiến Phật giáo trong 50 năm qua vẫn chưa thực sự cắm rễ vào đời sống văn hóa và xã hội phương Tây. Thay vào đó, Phật giáo chủ yếu hiện diện dưới hình thức các trung tâm phục vụ cộng đồng di dân hoặc các cơ sở trị liệu tâm linh, mà chưa thực sự phát triển thành những tông phái hay hệ mỹ học mới.
Điều nguy hiểm trong lần diễn giải này chính là sự ảnh hưởng của nó đối với các quốc gia Á châu, khi phần lớn trí thức Phật giáo và người trẻ tin rằng Phật giáo chỉ là một hệ thống triết học hoặc tâm linh, không phải là một tôn giáo. Sự quay trở lại châu Á này tạo ra một cuộc va đập gay gắt giữa các cộng đồng cách tân và bảo thủ. Nếu chỉ xem Phật giáo là triết học và tâm linh, hoặc chỉ nhìn nhận nó như một tôn giáo truyền thống, thì cả hai thái độ này đều vô tình phớt lờ những mặt tối cần phải thay đổi trong Phật giáo.
Việc chấp nhận những diễn giải này, nếu không cẩn thận, có thể là dấu hiệu của một tâm thức Tâm Linh Hậu Thuộc Địa, khi chúng ta dễ dàng tiếp nhận các diễn giải tâm linh do phương Tây đưa ra mà không xét đến sự tương thích của chúng với văn hóa và tôn giáo bản địa. Tâm Linh Hậu Thuộc Địa, theo đều xuất của tôi, là trạng thái trong đó các cộng đồng tôn giáo bản địa tiếp nhận và nội hóa những diễn giải mới đến từ phương Tây, đến mức xem chúng như hình thức “chính thống” của truyền thống mình.
Việt Nam sẽ là quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của lần diễn giải này ở châu Á, cả về phương diện tích cực lẫn tiêu cực. Sự ngưỡng mộ và chống đối đối với truyền thống Làng Mai trong thời gian qua chính là một ví dụ rõ rệt.
Làng Mai, với lịch sử diễn giải Phật giáo tại phương Tây, chỉ tập trung vào các phương thức thực hành và ngôn ngữ mới, nhưng chưa hoàn toàn thay đổi nội dung triết học của Phật giáo. Thiền sư Thích Nhất Hạnh, với nhiều tác phẩm và phương pháp giảng dạy của mình, chủ yếu nằm trong bước tái diễn giải và hiện đại hóa Phật giáo, chứ không phải tái cấu trúc toàn bộ triết học và tạo ra một tông phái hay hệ tư tưởng lớn như các bậc thầy Phật giáo trong lịch sử như Thế Thân, Vô Trước, Long Thọ, Trí Khải, Pháp Tạng, Đạo Nguyên.
Phật giáo và các tôn giáo nói chung hiện đang đối mặt với nhiều điểm gãy, và lần diễn giải này chỉ là một trong những cố gắng để vá điểm gãy đó. Phật giáo Đại Thừa là một truyền thống mạnh mẽ, cởi mở và có khả năng thích ứng cao trong lịch sử, nó đã thành công trải qua ba lần diễn giải lớn, nhưng lần diễn giải thứ tư này mới chỉ bắt đầu.
Liệu lần diễn giải này có thể giúp Phật giáo tiếp tục tồn tại như một nền văn minh tâm linh toàn cầu trong tương lai hay không, chúng ta phải chờ xem tiến trình của nó sẽ diễn ra như thế nào trong vài thập niên, hoặc có khi, vài thế kỷ tới.