Hạn Tính của Tục Đế
(Pháp Hoan)
Nếu đọc Phật giáo như một hệ thống triết học, thì Phật giáo sơ kỳ và Phật giáo Đại Thừa, với Trung Quán Tông, Duy Thức Tông, là một trong những hệ thống có thể nói là đẹp nhất trong mọi hệ thống tôn giáo và triết học kể từ thời kỳ Trục Tâm. Chưa kể đến sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nó đối với các mô thức tâm linh, mỹ học, văn học, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, thi học, đạo đức, pháp luật và văn hóa, qua sự hình thành và phát triển lên tới đỉnh cao của các tông phái như Pháp Hoa Tông, Tịnh Độ Tông, Thiên Thai Tông, Thiền Tông (hiện nay còn lại hai nhánh), cùng nhiều hệ mỹ học khác nhau.
Phật giáo Đại Thừa đã ảnh hưởng sâu rộng lên mọi ngóc ngách của xã hội và văn hóa Á Đông, góp phần đưa khu vực này trở thành một trong những nền văn minh rực rỡ nhất trong lịch sử nhân loại, định hình quá khứ, hiện tại và tương lai của vùng văn hóa này, cũng như tạo dựng ảnh hưởng ngày càng lớn lên nền văn minh thế giới trong thế kỷ 21. Việc Phật giáo Việt Nam chưa nội hoá thành công, và việc đa số tu sĩ, Phật tử, người dân Việt Nam không có một cái nhìn toàn cảnh về chiều rộng mỹ học cũng như chiều sâu triết học của nó, mà chỉ xem nó như một tôn giáo bình dân, mang màu sắc huyền học hoặc chỉ có chức năng xoa dịu tâm lý đám đông, là một bi kịch của dân tộc.
Lý do tôi cho rằng Phật giáo Đại Thừa là một hệ thống triết học và tôn giáo vừa khó giải cấu trúc nhất, bởi nó được xây dựng trên một nền triết học không có nền tuyệt đối. Hệ quả của quyết định này chính là việc bản thân Phật Giáo Đại Thừa đã tự giải cấu trúc của nó trong 2000 năm qua, lúc mạnh lúc yếu, và có những lúc gần như tuyệt đối qua sự phát triển của hệ thống công án của Lâm Tế Tông. Nhưng nó vẫn cố gắng để lại một khung tâm linh cần thiết để nâng đỡ con người, chưa thể hoàn toàn giải bản thể đến tận cùng. Nhưng chừng đó cũng đủ để đặt nó lên một trong những vị trí cao nhất trong lâu đài tư tưởng của con người.
Trong 49 ngày dưới cội bồ đề, Đức Phật đã thấy đến tận cùng về vô thường, từ đó dẫn tới vô ngã, duyên khởi và sự phát triển của tánh không của Long Thọ sau này. Tuy nhiên, nếu Ngài chỉ nói về chúng như là những khái niệm trừu tượng, không mục đích và không cứu cánh, thì không có gì phải bàn cãi. Nhưng nếu thế, chúng không thể làm nền tảng để dựng lên mô hình cứu khổ và giải thoát. Đức Phật đã chọn một con đường (mà ai hiểu đạo Phật sẽ nhận ra) để xây dựng một mô hình tôn giáo nhằm định hình và giảm thiểu khổ đau của xã hội Ấ Độ đương thời. Ngài lập ra phương tiện và có lẽ cả cứu cánh, từ đó những yếu tố siêu hình xuất hiện. Có mô hình hay cấu trúc thì sẽ có sự tôn giáo hóa, quyền lực hoá, và một hệ thống vận hành đằng sau.
Với 14 câu hỏi Ngài không trả lời, truyền thống thường giải thích rằng chúng không liên quan đến con đường chấm dứt khổ đau. Tuy nhiên, nếu nhìn dưới góc độ cấu trúc triết học, nếu trả lời “cứu cánh như cứu cánh” thì hệ thống sẽ đóng băng thành chân lý, còn nếu trả lời “cứu cánh như phương tiện” thì hệ thống sẽ sụp đổ. Ngài không muốn cả hai, và vì vậy, Ngài im lặng. Ai hiểu sự im lặng của Ngài, tức là đã hiểu Ngài, hiểu đạo Phật, và thấu hiểu những bí mật sâu kín nhất mà Ngài cố ý để lại.
Việc chọn Vô Thường và Khổ làm nền tảng triết học là một trong những quyết định thông minh và trí tuệ nhất của Đức Phật. Nếu xét về toàn bộ nền bản thể của triết học phương Tây hay Đông Á, chỉ có Đạo của Lão Tử có thể sánh được. Tuy nhiên, Lão Tử lại không thể xây dựng một cấu trúc trên nền Đạo như Vô Thường và Khổ, đây chính là vẻ đẹp cũng như hạn chế của Lão Giáo.
Sự thành lập của Trung Quán Tông, Duy Thức Tông và Thiền Tông có thể coi là đỉnh cao của Phật giáo, một cú lật đổ các mô hình bản thể truyền thống, không chỉ trong tôn giáo mà còn cả trong mọi hệ thống triết học lấy một bản thể tuyệt đối làm nền. Long Thọ đã phá vỡ triệt để các mô hình cũ, và nếu không có mô hình Nhị Đế, có lẽ xã hội Nam Á đã rơi vào chủ nghĩa hư vô.
Việc Đức Phật mô hình hóa Vô Thường và Long Thọ Phật giáo hóa Tánh Không là những hành động cần thiết (được xem là Từ Bi trong phạm vi của sự thật Tương Đối (Tục Đế), mà SỰ THẬT TƯƠNG ĐỐI THÌ LUÔN CÓ THỜI HẠN) cho sự vận hành và ổn định của xã hội. Chúng tạo ra một nền tảng triết học linh hoạt, có khả năng thích ứng và phát triển trong từng bối cảnh văn hóa và thời đại khác nhau.
Phật giáo dẫu được một số xem là đứa con đẹp nhất của nền văn minh Trục Tâm, nhưng không phải vì thế mà nó không có nhiều điểm thiếu sót. Việc chúng ta thấy một cấu trúc văn minh quá đẹp, gần như hoàn hảo mà không muốn viễn du vào tận cùng những ngóc ngách của chúng để có thể tìm thấy những cặm bẫy nghịch lý của logic và những vấn đề hiện đại phát xuất từ đó là điều mà chính đức Phật đã ngầm cảnh báo.
Những gì chúng ta hiểu về Phật giáo hôm nay hầu như hoàn toàn không phải là nguyên ý của Phật, mà phần lớn chỉ là sự đóng băng bản thể để duy trì cấu trúc tăng đoàn suốt 2500 năm qua. Nếu Phật sống trong thế kỷ này, tôi tin rằng ngài sẽ làm với cấu trúc như những gì ngài đã làm với Ấn Độ Giáo, và Phật Giáo sẽ không là một ngoại lệ.
Không có gì là không thể giải bản thể, nhưng giải xong rồi, anh phải giải luôn cái hệ thống giải bản thể của anh, rồi lập nên một vũ trụ quan mới để cứu con người khỏi hư vô, rồi giải bản thể luôn mô hình vũ trụ quan đó, vậy mà chưa chắc anh sẽ được miễn trừ trách nhiệm trước toà án tương lai.
Nhưng việc anh giải bản thể một cấu trúc đẹp nhất chính là bản án cho những cấu trúc còn lại, như đập rắn thì đập đầu, đánh quân phải giết tướng, giống như cách Phật đã làm với Đại Ngã, Phân Cấp Bà-La-Môn, Định Mệnh Luận và Linh Hồn Bất Biến trong lịch sử.
Diễn giải thêm một lần nữa hay giải bản thể cấu trúc của một hệ thống tôn giáo hay triết học là câu hỏi tôi đã băn khoăn suốt thời gian qua. Tôi từng viết một bài phân tích ba lần diễn giải lớn trong lịch sử Phật giáo với bốn tiêu chí cần thiết, và hiện tại, lần diễn giải thứ tư đang diễn ra ở Bắc Mỹ, với những điểm tích cực cũng như những nguy hiểm tiềm tàng mà nó mang lại.
Diễn giải sẽ tạo ra thêm một chiếc bè cho con người bám vào, và giúp Phật giáo có thể duy trì và sống sót thêm một thời gian nữa để hoàn thành sứ mệnh lớn lao của nó trong sự vận hành điên rồ của dòng chảy xã hội hiện đại. Tuy nhiên, sự hạn chế của nó, không chỉ đối với Phật giáo mà đối với nền văn minh Trục Tâm nói chung, vẫn còn đó, như một vực thẳm vô hình không đáy của bạo lực, bên trong lẫn bên ngoài, đạo đức lẫn thân thể, cá nhân lẫn văn minh. Trong toàn bộ lịch sử triết học hiện đại, chỉ có rất ít người dám nhìn thẳng vào vực thẳm này. Một trong số đó là Friedrich Nietzsche. Ông đã nhìn vào cái vực thẳm ấy, nhưng cái nhìn đó đủ khiến ông phải trả giá rất đắt cho cuộc đời của mình.
Vậy với Phật giáo, hay với nền văn minh, tái diễn giải hay giải bản thể cần thiết hơn? Đó là một câu hỏi lớn.