Bản Thảo Thứ 6

Vậy là tôi đã hoàn thành đúng 300 bài cho cuốn thứ 6 của Kinh Thi, một phản trường ca về sự hình thành của Dịch (Vận Động)/Thi (Cấu Hình), xoay quanh cách Thời Gian được tổ chức thành Trục để từ đó Văn Minh ra đời, đồng thời dùng một hệ triết về Thời Gian để đọc lại thực tại, tôn giáo, ngôn ngữ, đạo đức, giới tính, pháp luật, mỹ học và lịch sử bằng một vũ trụ quan thơ ca mang tính thần thoại.

Tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện nó. Tham vọng cuối cùng là 500 bài cho trường ca này, nhưng nếu nội hàm của cuốn sách cho phép tôi dừng ở trên dưới 400 bài mà không cần mở thêm vùng đất mới, tôi sẽ khoá nó ở con số đó và dành nguồn lực cho các cuốn sau. Bởi cuốn thứ 6 này chỉ là cuốn khai hệ, như một công thức để đọc lại 5 cuốn đầu cùng những cuốn thơ dịch Đông Tây trước đó của tôi.

Với thơ ca, tôi tạm chia thơ ca thế giới thành hai cực. Một cực là thơ lấy kinh nghiệm thế tục làm trung tâm, gồm các thi sĩ Hy Lạp và La Mã cổ đại, Đỗ Phủ, Goethe, Whitman; Nguyễn Trãi và Nguyễn Du của Việt Nam cũng nằm trong nhóm này.

Cực kia là thơ mà tôn giáo, thần học, siêu hình học và nhận thức luận trở thành chính cỗ máy vận hành của tác phẩm. Dante, Milton, Blake, Dickinson và Rilke nằm trong nhóm này. Họ là những nhà thơ dám cả gan đặt những câu hỏi như: Thực tại hay Thượng đế là gì, vũ trụ/thế giới được cấu tạo thế nào, thời gian vận hành ra sao, v.v.

Triết học và tôn giáo là những mảnh đất màu mỡ gần như vô tận cho thơ. Riêng Phật giáo, và rộng hơn là Tam Giáo, vốn đã nằm sẵn trong lòng văn minh Việt Nam suốt hai nghìn năm qua. Điều còn lại là người viết có dám dấn thân, sống chết để đào sâu, hấp thụ, đập nát, rồi học cách lấy chính gạch đá cũ để xây lên lâu đài của mình hay không.

===========
Nehan-zu (涅槃図, Niết-bàn đồ), thời Kamakura, thế kỷ XIV.

Trả lời