(Đến anh Nguyên Huệ và chị Tống Mai) Kanshi (56) – Đỗ Quyên Ryokan Taigu (Lương Khoan Đại Ngu, 良寛大愚) Mùa xuân cuối
(Đến anh Nguyên Huệ và chị Tống Mai) Kanshi (56) – Đỗ Quyên Ryokan Taigu (Lương Khoan Đại Ngu, 良寛大愚) Mùa xuân cuối
Chó trong thơ Haiku, Pháp Hoan lược dịch. Hoa mận nở rồi vừa nằm vừa sủa một con chó lười. (Kobayashi Issa) Hoa
Waka (301- 303) – Fujiwara no Teika (1162-1241). (藤原定家, Đằng Nguyên Định Gia) Khi ngắm cánh đào rơi tôi không hề hay biết rằng
Ve trong thơ Haiku – Pháp Hoan lược dịch. Ve sầu trên cao tiếng kêu ướt đẫm bởi cơn mưa rào. (Kobayashi Issa)
Bướm trong thơ Haiku Pháp Hoan lược dịch Trên chuông đại hồng một cánh bướm nhỏ còn say giấc nồng. (Yosa Buson) Bé
17 bài Haiku với quý ngữ là cánh chuồn chuồn. Pháp Hoan lược dịch. Chuồn chuồn kia ơi láo liên đôi mắt khác chi
9 bài Haiku (1113-1122) của Ozaki Hōsai 尾崎放哉; Vĩ Kỳ Phóng Tai) Bầu trời rộng bao la nhưng không hề có nón ở trên
”Người ta kéo Santoka ra khỏi đường ray và mang ông đến ngôi thiền viện gần đấy. Sư trú trì, một tăng sĩ sâu sắc
6 bài Haiku (1023-1028) của Yosa Buson (Dữ Tạ Vu Thôn, 与謝 蕪村). Những đốm lửa ma trơi khi cơn mưa đổ xuống ở
”Cuộc đời của Santōka là một thiên bi kịch. Cha ông là một thương gia có tính trăng hoa, người đã đánh mất toàn bộ
7 bài Haiku (1012-1018) của Phúc Điền Thiên Đại Ni (Fukuda Chiyo-ni, 福田千代尼). Lục bình lơ thơ mặc cánh bướm đậu vẫn trôi lững
Một trong những bài Haiku hiếm hoi còn sót lại của nhà thơ ẩn dật người Nhật Yoshida Ryusui (1691-1758). Haiku (1011) Tiếng
10 bài Haiku (1001-1010) của nhà thơ Taneda Santōka (種田 山頭火) Ngụm rượu sa kê khi vừa nuốt xuống nghe sao nặng nề!
Vậy là hôm nay đã hoàn thành 1000 bản dịch Haiku. Xin cảm ơn tất cả! 10 bài Haiku (991-1000) của Masaoka Shiki (正岡
6 Bài Haiku (986-990) của Yosa Buson (Dữ Tạ Vu Thôn, 与謝 蕪村). Kìa một cô gái điên trưa mùa xuân đứng hát ở
6 bài Haiku (980-985) của Yosa Buson (Dữ Tạ Vu Thôn, 与謝 蕪村) Sét đánh gãy giàn nhưng hoa dưa vẫn sớm nay nở
10 bài Haiku (970-979) của Masaoka Shiki (正岡 子規, Chánh Cương Tử Quy) Mùa đông đã sang bóc đôi trái quýt ngón tay nhuốm
8 bài Haiku (962-969) của Phúc Điền Thiên Đại Ni (Fukuda Chiyo-ni, 福田千代尼). Hoa sáng lên nhạt nhoà hoàng hôn còn nán lại ở
12 bài Haiku (949-960) của Phúc Điền Thiên Đại Ni (Fukuda Chiyo-ni, 福田千代尼). Tóc chưa chải xong những người phụ nữ lại đi ra đồng.
6 bài Waka (267-272) của Hoà Tuyền Thức Bộ (Izumi Shikibu,和泉式部, 976?) Waka (267) Điều gì ở trên đời ít đáng tin cậy nhất-
7 tuổi làm thơ, 15 tuổi nổi danh khắp nước Nhật, 52 tuổi đi tu, hơn 200 năm sau Chiyo-ni vẫn giữ vị thế là
7 bài Haiku của Yosa Buson (Dữ Tạ Vu Thôn, 与謝 蕪村) Khu vườn thênh thang đoá mẫu đơn nở một góc thiên đàng.
Xem kìa cánh đào rơi đang bay về lại nhánh Ồ, chỉ là bướm thôi! The fallen blossom, rising back up to its branch,
5 bài Haiku (927-931) của Yosa Buson (与謝 蕪村, Dữ Tạ Vu Thôn). Trong làn nước mênh mang tiếng của cây liềm sắc cắt
7 bài Haiku (920-926) của thiền sư Kobayashi Issa ( 小林一茶, Tiểu Lâm Nhất Trà). Đêm rồi lại đêm cây măng trước cổng cao
4 bài Haiku (916-919) của Natsume Sōseki (夏目 漱石; Hạ Mục Thấu Thạch) Sương khói mịt mờ một cây cầu đỏ bắc vào cõi
3 bài waka của thiền sư Lương Khoan Đại Ngu (Ryokan Taigu; 良寛大愚). Waka (264) Ôm bình bát cúng dường đi vào ngôi làng nhỏ
19 bài haiku (887-915) của thiền sư Kobayashi Issa (小林一茶, Tiểu Lâm Nhất Trà). Đỉnh đá nhấp nhô dải ngân hà chảy vào núi
6 bài Haiku (881-886) của Matsuo Basho (松尾笆焦, Tùng Vĩ Ba Tiêu) Tổ cò ở trên cao ẩn hiện sau tán lá của đám
13 bài Haiku (868-880) của Matsuo Basho (松尾笆焦, Tùng Vĩ Ba Tiêu) Trong buổi chiều hôm trăng vừa đủ sáng để hầm nồi tôm.
10 bài haiku (858-867) của thiền sư Kobayashi Issa (小林一茶, Tiểu Lâm Nhất Trà). Khi ta nhìn qua cành diên vĩ dại mặt trời
6 bài Haiku (852-857) của Matsuo Basho (松尾笆焦, Tùng Vĩ Ba Tiêu) Trong phòng trọ của tôi lấp đầy ô cửa sổ vầng trăng
7 bài Haiku (845-851) của Kyoshi Takahama (高浜 虚子; Cao Bang Hư Tử) Trong miền núi sâu bên dòng suối vắng thiếu nữ gội
5 bài Haiku (840-844) của Masaoka Shiki (正岡 子規, Chánh Cương Tử Quy) Bản dịch (1) Như một đốm lửa hồng đom đóm kia
10 bài Haiku (830-839) của Matsuo Basho (松尾笆焦, Tùng Vĩ Ba Tiêu) Mưa đến rồi đi mạ non sẽ mọc đừng lo lắng gì! Chẳng
14 bài Haiku (816-829) của thiền sư Kobayashi Issa (小林一茶, Tiểu Lâm Nhất Trà) Căn nhà của tôi xuyên qua bóng lá ánh trăng
3 bài Haiku (812-815) của Kawahigashi Hekigotō (河東碧梧桐). Ầm ầm sóng xuân đánh vào chiếc cổng của ngôi đền thần. Cánh bướm mùa
9 bài Haiku (804-812) của thiền sư Kobayashi Issa (小林一茶, Tiểu Lâm Nhất Trà). Trong buổi chiều tà chim săn mồi đã chui vào
13 bài Haiku (791-803) của Yosa Buson (与謝 蕪村, Dữ Tạ Vu Thôn) Phương Tây trăng chìm dần và bóng hoa bóng lá ở
9 bài Haiku (781-790) của Mukai Kyorai (向井 去来; Hướng Tỉnh Khứ Lai) Màn đêm sâu dần như người hàng xóm tôi nằm trước