7 bài Haiku (1584-1590) – Arii Shokyu-Ni (有井諸九尼; Hửu Tỉnh Gia Cửu Ni) Trên nhánh cây khô gầy hạt mưa vừa rơi xuống lộc
7 bài Haiku (1584-1590) – Arii Shokyu-Ni (有井諸九尼; Hửu Tỉnh Gia Cửu Ni) Trên nhánh cây khô gầy hạt mưa vừa rơi xuống lộc
Chương 18 – Tĩnh Lặng: Trầm Mặc (Haiku Mind, 108 Poems to Cultivate Awareness & Open Your Heart) Không lấy một âm thanh cả
Haiku (1583) – Ryota Oshima (大島 僚太; Đại Kê Liêu Thái) Tuyết rơi hoài trong đêm tôi thấy hơi gió nhẹ vừa thoảng qua
Haiku (1582) Akutagawa Ryūnosuke (芥川 龍之介, Giới Xuyên Long Chi Giới) Gió đông thổi liên hồi cá mòi khô còn giữ sắc màu của
Haiku (1581) – Sandra Simpson Vầng trăng đi hoang tối nay tìm thấy giữa bông cúc vàng. Finding the moon right in the
Haiku (1580) Ryota Oshima (大島 僚太; Đại Kê Liêu Thái). Không lấy một âm thanh cả chủ nhân và khách cùng đoá cúc trắng
8 bài Haiku (1572-1579) của Phúc Điền Thiên Đại Ni (Fukuda Chiyo-ni, 福田千代尼). Dẫu đã vỡ rồi búp bê kia vẫn giữ nguyên nụ cười.
Ở Nhật Bản cũng như nhiều nơi khác, người ta tin rằng ngôn ngữ có linh hồn hoặc năng lực tâm linh. Thơ Tanka (短歌
14 bài Haiku (1557-1570) của thiền sư Kobayashi Issa (小林一茶, Tiểu Lâm Nhất Trà). Tiếng chim bách thanh như thể xuyên thủng cả mái
7 bài Haiku (1550-1556) của Phúc Điền Thiên Đại Ni (Fukuda Chiyo-ni, 福田千代尼). Tịch nhan đơm hoa khi nàng để lộ làn da trắng
Haiku (1549) – Robert Aitken Ánh mặt trời chiếu lên trên lối đi bỏ lại của một chú ốc sên. The sun glitters
Alba Mát như lá linh lan đẫm màn sương buổi sáng tôi nằm bên cạnh nàng. As cool as the pale wet leaves
4 bài Haiku (1544-1547) của Doris Heitmeyer. Tấm rèm cửa lung lay đôi mắt con mèo trắng dõi nhìn hoa tuyết bay. Tháng
8 bài Haiku (1536-1543) của hai cha con Dakotsu Iida (飯田 蛇笏: Phạn Điền Xà Hốt) và Ryuta lida (飯田 龍太; Phạn Điền Long Thái)
5 bài haiku (1531-1535) của Shūōshi Mizuhara (水原秋桜子; Thuỷ Nguyên Thu Anh Tử) Mưa trên tán anh đào và trong màn sương mỏng hàng
3 bài waka (317-319) của Ki no Tsurayuki (紀貫之, Kỷ Quán Chi) Bóng người đã khuất xa như khói sương tan biến ở Shiogama
10 bài Haiku (1521-1530) của Nick Virgilio. Kìa bông súng trắng tinh vươn ra khỏi mặt nước vươn ra khỏi chính mình. Hơi
3 bài Haiku (1518-1520) của Hattori Ransetsu (服部嵐雪, Phục Bộ Lam Tuyết) Thiếu phụ không con dịu dàng ôm ấp búp bê tí hon.
5 bài Waka (312-316) của Hoà Tuyền Thức Bộ (Izumi Shikibu,和泉式部, 976?) _Mong chờ một vị khách trong đêm, người không đến. Sáng ra
Hồng trong thơ Haiku (Pháp Hoan lược dịch) Ăn những quả hồng năm nay có lẽ là năm cuối cùng. (Masaoka Shiki) Có
3 bài haiku (1515-1517) của Nozawa Bonchō (野沢 凡兆, Dã Đầm Phàm Triệu; 1640–1714) Nào có gió trời nhưng kìa một lá ngô đồng
7 bài Haiku (1508-1514) của Mukai Kyorai (向井 去来; Hướng Tỉnh Khứ Lai); Chine và Basho. ‘Vâng, tôi sẽ ra ngay!’ ai đó vẫn
5 bài Haiku (1503-1507) của Matsuo Basho (松尾笆焦, Tùng Vĩ Ba Tiêu) Đám lá non rạng ngời tôi muốn lau giọt lệ trên mi
3 Bài Waka (309-311) Murasaki Shikibu (紫式部, Tử Thức Bộ; 978—1019?) Chim đỗ quyên kia ơi nhà nào ngươi sẽ tới thăm viếng tối
Trên Chiến Trường Flanders John McCrae (1872-1918) Trên chiến trường Flanders hoa anh túc đỏ thắm Giữa những cây thập tự, hàng theo hàng ngay
Vậy là hôm nay đã hoàn thành 1500 bài Haiku của khoảng 40 tác giả cổ kim. Tuy có nhiều thăng trầm nhưng tâm chưa
10 bài Haiku (1488-1497) của Michael McClintock. Giấc mộng an bình… mũi thuyền rẽ sóng hướng về Hoả tinh. Những điều tôi hay
6 bài Haiku (1482-1487) của Richard Wright. Bò lên trên tường nhà chiếc bóng gầy kinh khiếp của tán cây sồi già. Trong
Kanshi (47) – Nón Lá, Áo Tơi Ikkyu Sojun (一休宗純, Nhất Hưu Tông Thuần) Ngư phủ, tiều phu thật tuyệt vời, Biết cách sinh tồn
4 bài Haiku (1478-1481) của Nick Virgilio. Điện tín ở trong tay chiếc bóng của người lính thẫm đen lúc cuối ngày. Chiều
4 bài Haiku (1474-1477) của Uejima Onitsura (上島鬼貫; Thượng Đảo Quỷ Quán) Đào nở trên cành ngựa thì bốn cẳng chim thời hai chân!
Cây Bài Ca Em đã hát bài ca cho tất cả, Nhưng với anh em chỉ biết lặng thinh; Cây bài ca giờ đây
5 bài Haiku (1469-1473) của Jack Kerouac. Ngồi giữa trang kinh chú mèo muốn được vuốt ve thân mình. Cái cây xanh tươi
6 bài Haiku (1463-1468) của Ce Rosenow (1967 – ) Kỳ nghỉ mùa xuân bờ biển đầy ắp những đôi mông trần. Thác
4 bài Haiku (1459-1462) của Nick Avis. Mưa mùa thu rơi chuông điện thoại đổ một lần rồi thôi. Một chú ngỗng hoang
6 Bài Waka Của Murasaki Shikibu (むらさきしきぶ; 紫式部, Tử Thức Bộ; 978—1019?) Người hãy viết đến tôi như loài chim ngỗng xám chẳng bao giờ
Chương 17: Tính Trung Thực (Haiku Mind, 108 Poems to Cultivate Awareness & Open Your Heart) Trong khi tôi cố tình giết chết một
8 bài Haiku (1451-1458) của Garry Gay. Họp mặt định kỳ lần nữa giải thích haiku là gì. Chậm rãi trong đêm cùng
6 bài Haiku (1445-1450) của Mitsuhashi Takajo (三橋 鷹女; Tam Kiều Ưng Nữ) Lá đỏ buổi chiều leo lên đến ngọn tôi thành nữ
8 bài Haiku của (1437-1444) của Kato Shuson (加藤楸邨; Gia Đằng Thu Thôn) Rơi mãi không thôi cớ chi mà vội lá mùa thu